[비즈한국] Các doanh nghiệp đôi khi đưa ra những quyết định khó giải thích chỉ bằng tiền bạc. Nếu hiểu rõ luật pháp hay thể chế ẩn sau đó, bạn có thể nắm bắt được ngọn ngành vấn đề một cách chi tiết hơn. Chuyên mục mới “Luật kinh doanh hữu ích cần biết” sẽ giới thiệu những manh mối giúp bạn hiểu rõ dòng chảy kinh doanh.
Năm 2017, Chủ tịch Kim Sang-jo được bổ nhiệm làm Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Thương mại Công bằng (KFTC) dưới thời chính quyền Moon Jae-in. Có lẽ do kỳ vọng lớn của người dân vào giai đoạn đầu nhiệm kỳ, số lượng khiếu nại gửi lên Ủy ban đã tăng vọt gấp 1,5 lần sau khi ông Kim nhậm chức.
Tuy nhiên, Ủy ban Thương mại Công bằng không thể xử lý hết số lượng vụ việc khổng lồ này trong thời gian ngắn. Có lẽ vì lý do này, nhiều trường hợp khiếu nại chính thức bị coi là đơn thư dân sự thông thường, và Ủy ban chỉ cần một tờ công văn để kết thúc vụ việc với lý do “không thuộc phạm vi áp dụng của Luật Giao dịch Công bằng” hoặc “hãy ra tòa án dân sự mà giải quyết”.
Chẳng bao lâu sau, cả người dân là phía khiếu nại lẫn doanh nghiệp bị khiếu nại đều cảm thấy bất mãn. Phía người dân cảm thấy bị phản bội: “Nói là sẽ lau khô nước mắt cho người yếu thế, hóa ra chỉ là lời nói suông. Nếu không làm được thì hãy sửa luật hoặc đừng quảng bá là sẽ tiếp nhận khiếu nại làm gì”.
Luật Giao dịch Công bằng có phạm vi áp dụng rất rộng tùy theo cách diễn giải. Trên thực tế, trước đây Ủy ban đã tích cực diễn giải các hành vi giao dịch không công bằng để kiểm soát cả những vấn đề lạm dụng vị thế giao dịch vốn dĩ cũng liên quan đến các tranh chấp dân sự. Nhưng nay, với lý do quá nhiều vụ việc quan trọng khác, việc Ủy ban kết thúc vụ việc chỉ bằng một tờ công văn khiến người dân khó lòng chấp nhận.
Các doanh nghiệp cũng có nỗi bất bình tương tự. Họ cho rằng: “Lời của phía khiếu nại không phải lúc nào cũng đúng. Ngược lại, đa phần họ chỉ đang cố đòi hỏi phải đảm bảo lợi nhuận cho mình. Nếu cứ chấp nhận mọi khiếu nại ác ý như thế thì không thể kinh doanh bình thường được”.
Vấn đề này nảy sinh do số lượng vụ việc dồn ứ quá lớn tại Ủy ban Thương mại Công bằng. Chính vì vậy, để phân tán áp lực, các phương án như mở rộng đối tượng hòa giải của Cơ quan Hòa giải Giao dịch Công bằng và ủy quyền kiểm soát cho các chính quyền địa phương đã bắt đầu được thảo luận nghiêm túc. Đồng thời, chế độ yêu cầu cấm đoán của cá nhân và chế độ bồi thường thiệt hại trừng phạt cũng được đưa vào áp dụng nhằm giúp người dân nhận được sự cứu trợ thực tế thông qua tòa án.

‘Yêu cầu cấm đoán của cá nhân’ là chế độ cho phép người bị hại trực tiếp yêu cầu tòa án ngăn chặn hành vi xâm phạm (hành vi giao dịch không công bằng) mà không cần sự can thiệp của Ủy ban Thương mại Công bằng. Điều này tương tự như việc xin lệnh cấm xuất bản khi có hành vi đạo văn, hay xin lệnh cấm biểu diễn khi nghệ sĩ trực thuộc vi phạm hợp đồng độc quyền; nếu doanh nghiệp có hành vi chèn ép, nạn nhân có thể yêu cầu cấm hành vi đó.
‘Bồi thường thiệt hại trừng phạt’ là chế độ buộc đối tượng thực hiện hành vi trái pháp luật do cố ý hoặc sơ suất nghiêm trọng phải bồi thường số tiền lớn hơn thiệt hại thực tế phát sinh. Bồi thường thiệt hại trừng phạt là chế độ thuộc thông luật (Anglo-American law), nổi tiếng với vụ việc tại Mỹ khi một người phụ nữ bị bỏng do đổ cà phê mua tại McDonald's và được bồi thường hàng trăm nghìn USD. Gần đây, chế độ này đã được đưa vào Luật Giao dịch Công bằng nhằm hiện thực hóa việc bồi thường thiệt hại.
Dù các chế độ này đã được đưa vào một cách khó khăn, nhưng rất hiếm thấy trường hợp thực tế áp dụng. Dự kiến trong tương lai, số vụ áp dụng cũng sẽ không nhiều. Giới học thuật phản đối với lý do nó không phù hợp với hệ thống pháp luật Hàn Quốc vốn lấy bồi thường thiệt hại thực tế làm nguyên tắc. Giới công nghiệp phản đối vì cho rằng nó gây khó khăn cho hoạt động doanh nghiệp. Tòa án cũng khá dè dặt trong việc công nhận những thiệt hại không thể chứng minh bằng văn bản.
Suy cho cùng, cốt lõi của việc bồi thường thiệt hại không nằm ở việc viện dẫn các điều khoản mang tính trang trí, mà nằm ở sự thông hiểu về nguyên tắc pháp lý và quy trình bồi thường. Khi yêu cầu bồi thường thiệt hại trong các vụ tranh chấp theo Luật Giao dịch Công bằng, cần cân nhắc những điểm sau:
Có nên khởi kiện dân sự tách biệt với khiếu nại lên Ủy ban Thương mại Công bằng không? Các vụ việc khiếu nại lên Ủy ban hầu hết đều mất vài năm mới có kết quả. Do đó, nếu chờ đợi kết luận mà không khởi kiện bồi thường thiệt hại, thời hiệu khởi kiện có thể đã kết thúc, dẫn đến việc không thể yêu cầu bồi thường được nữa.
Vì lý do này, nhiều người thường nộp đơn khởi kiện dân sự lên tòa án song song với khiếu nại lên Ủy ban, sau đó xin hoãn ngày xét xử (chờ chỉ định ngày xét xử sau) cho đến khi có kết luận từ Ủy ban. Lưu ý rằng gần đây, luật đã được sửa đổi để thời hiệu khởi kiện được tạm dừng trong trường hợp nộp đơn hòa giải tranh chấp thầu phụ.

Làm thế nào để chứng minh thiệt hại một cách cụ thể?
Trong trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại do thông đồng (cartel), cần tính toán sự chênh lệch giữa giá do thông đồng quyết định và mức giá cạnh tranh giả định nếu không có sự thông đồng. Khi đó, mức giá cạnh tranh giả định sẽ được tính toán thông qua thẩm định.
Đối với các vụ việc thông đồng, chủ thể yêu cầu bồi thường thường là các bên đặt hàng (cơ quan thụ hưởng) như Nhà nước, chính quyền địa phương, tập đoàn lớn. Những đơn vị này có đủ tiềm lực để sử dụng các phương pháp thẩm định của tòa án nên không gặp khó khăn đặc biệt trong việc chứng minh thiệt hại. Chỉ có những tranh luận phức tạp về phương pháp thẩm định như thẩm định dựa trên thống kê hay dựa trên chi phí.
Yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm Luật Kinh doanh Nhượng quyền thương mại và hành vi giao dịch không công bằng là việc đòi lại lợi nhuận kinh doanh tương lai (lợi nhuận bị mất) đáng lẽ đã có được nếu không có hành vi vi phạm đó. Thông thường, lợi nhuận ròng sau khi trừ các loại chi phí từ doanh thu trong vài tháng ngay trước khi hành vi vi phạm xảy ra sẽ được tính toán, và dựa trên lợi nhuận ròng đó để tính lợi nhuận kinh doanh tương lai.
Ví dụ: Thời hạn hợp đồng được đảm bảo theo Luật Kinh doanh Nhượng quyền là 10 năm. Tuy nhiên, do sự chèn ép của bên nhượng quyền, hợp đồng bị chấm dứt khi còn 5 năm nữa. Trong trường hợp này, nếu lợi nhuận ròng trung bình hàng tháng trong 3 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng là 1 triệu Won, thì thiệt hại có thể được tính bằng cách lấy 1 triệu Won nhân với 5 năm còn lại (1 triệu Won * 5 năm * 12 tháng) = 60 triệu Won.
Khi đó, dữ liệu cơ bản sẽ là báo cáo thuế GTGT, thuế doanh nghiệp, hóa đơn thuế, sổ sách chi phí/chi tiêu, v.v. Các điều khoản cho phép tòa án yêu cầu gửi hồ sơ từ Ủy ban Thương mại Công bằng và điều khoản cho phép công nhận mức thiệt hại đáng kể dựa trên toàn bộ diễn biến tranh tụng được sử dụng rất hữu ích (Luật Giao dịch Công bằng Điều 56-2, Điều 57).
Đôi khi, các doanh nghiệp nhỏ lẻ thường giảm lợi nhuận trên giấy tờ bằng cách trả lương cho người nhà nhằm giảm bớt thuế. Những cách vận hành lách luật như vậy sẽ không tránh khỏi bất lợi khi tính toán số tiền bồi thường thiệt hại.

Trong xét xử tại tòa, tỷ trọng giữa việc xác lập trách nhiệm (xác lập hành vi vi phạm) và phạm vi (số tiền thiệt hại) là như thế nào?
Trong quá trình xét xử, nếu Ủy ban Thương mại Công bằng đưa ra quyết định trừng phạt dựa trên tiền đề có vi phạm pháp luật, thì trọng tâm xét xử sau đó thường tập trung vào tính toán thiệt hại, tức là tính toán tiền bạc. Mặc dù có những trường hợp doanh nghiệp kéo dài thời gian xét xử bằng cách khởi kiện hành chính cho rằng quyết định của Ủy ban là sai, nhưng khi đã có quyết định từ Ủy ban thì việc phủ nhận hoàn toàn trách nhiệm sẽ khiến doanh nghiệp trông rất thiếu thuyết phục.
Dưới góc độ này, ngay cả khi quyết định của Ủy ban là nhẹ, cũng cần thận trọng khi bỏ qua. Trường hợp nhận quyết định cảnh cáo, ngoài việc tích lũy điểm phạt thì không gây ra thiệt hại quá lớn, nhưng nó mang tiền đề rằng hành vi đó là phạm pháp. Do đó, nếu bên bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại, doanh nghiệp khó có thể phủ nhận hoàn toàn trách nhiệm.
Trong hệ thống hiện tại, việc nhận được mức bồi thường thiệt hại đầy đủ từ tòa án là rất khó khăn. Doanh nghiệp nhỏ lẻ khó có thể 확보 (đảm bảo) được các bằng chứng cần thiết để chứng minh thiệt hại và cũng khó chống lại các đội ngũ pháp lý hùng hậu của các tập đoàn lớn. Thông thường, nếu không có sức chịu đựng, doanh nghiệp khó có thể kéo dài vụ kiện trong nhiều năm.
Đó chính là lý do tại sao số lượng khiếu nại gửi lên Ủy ban Thương mại Công bằng lại nhiều đến vậy. Không phải do người dân Hàn Quốc có tính nóng nảy hay thích vòi vĩnh hơn người dân các nước khác. Chỉ cần nhìn vào việc số lượng vụ án dân sự giảm đi trong khi số lượng khiếu nại lên Ủy ban lại tăng lên là đủ để hiểu rõ điều đó.