[비즈한국] Giữa nhiệm kỳ của chính quyền Yoon Suk-yeol, tư lệnh quốc phòng lại một lần nữa thay đổi. Dù các vấn đề quốc phòng đang trở thành tâm điểm của những tranh cãi chính trị hơn bất kỳ chính quyền nào trước đây, nhưng thực tế là chúng ta vẫn thiếu sự đặt vấn đề và thảo luận về các vấn đề quốc phòng thực sự quan trọng.
Vì lý do này, tôi muốn tổng kết trước những vấn đề có thể khiến chúng ta bất ngờ trong các vấn đề quốc phòng hiện nay, bao gồm cả công nghiệp quốc phòng, đồng thời chia sẻ ngắn gọn như một dạng 'tiêm phòng' về lý do tại sao những vấn đề này trở nên quan trọng và cách giải quyết chúng. Tôi đã lập ra 'Danh sách kiểm tra 3 vấn đề an ninh trọng yếu'.

Vấn đề đầu tiên là về việc tái thiết công tác thu thập thông tin tình báo ở nước ngoài. Mặc dù sự cố 'lộ danh tính đặc vụ ngầm của Bộ Tư lệnh Tình báo' và các vấn đề liên quan đến kiện tụng trong Bộ Tư lệnh Tình báo đã trở thành chủ đề nóng hằng ngày, nhưng chúng ta vẫn chỉ tập trung vào sự thật về vụ rò rỉ mà thiếu đi những thảo luận về việc cần làm gì trong tương lai.
Kết luận mà nói, hiện tại các hoạt động tác chiến tình báo nước ngoài và các nhân sự không công khai được cử ra nước ngoài vẫn đang hoạt động rất tích cực tại hiện trường. Điều này là bởi vì vốn dĩ các hoạt động tác chiến tình báo nước ngoài từ lâu đã được phân chia vai trò hoặc thực hiện bởi cả Cơ quan Tình báo Quốc gia (NIS) và Bộ Tư lệnh Tình báo.
Vấn đề nằm ở chỗ, không phải là các nhân sự không công khai – hay còn gọi là 'đặc vụ ngầm' (black agent) – đang thực hiện hoạt động thu thập thông tin tình báo nước ngoài đã biến mất, mà cốt lõi của vấn đề là việc các hoạt động thu thập thông tin tình báo không công khai vốn được chia đôi giữa NIS và Bộ Tư lệnh Tình báo nay trên thực tế đã bị sáp nhập làm một.
Tác chiến tình báo nước ngoài nghe thì có vẻ là tác chiến, nhưng thực chất là việc thử nghiệm và thực hiện mọi hành động mà con người có thể tưởng tượng ra để thu thập thông tin. Những hoạt động tình báo trong phim gián điệp có nhiều chi tiết phóng đại, nhưng thực tế hành động của gián điệp trong phim lại chứa đựng nhiều chi tiết còn bị lược bỏ hơn cả phần phóng đại. Bởi vì độ tin cậy của thông tin và thời điểm thu thập được thông tin sẽ thay đổi tùy thuộc vào phương thức và số lượng thông tin thu thập được.
Hơn nữa, trong số các hoạt động tác chiến tình báo, đối với tác chiến tình báo nước ngoài, việc đảm bảo độ tin cậy cũng quan trọng như số lượng thông tin thu thập được. Và cách tốt nhất để ngăn chặn điều này là để các thực thể khác biệt, tách biệt thực hiện tác chiến tình báo một cách độc lập mà không biết về hoạt động thu thập thông tin của bên kia. Các tổ chức có quyền nhân sự khác nhau sẽ có xu hướng và hành động tác chiến tình báo khác biệt hoàn toàn, và càng như vậy thì đối phương càng khó thực hiện các nhiệm vụ phản gián (Counter-Intelligence).
Vấn đề là khi phớt lờ thực tế này và để một tổ chức duy nhất đảm nhiệm toàn bộ công tác thu thập thông tin tình báo nước ngoài, chúng ta rất dễ bị đối phương truy vết ngược, thao túng hoặc phản công. Hiện tại, cách dễ nhất và nhanh nhất để tăng cường nhân lực cho tác chiến tình báo nước ngoài, tức là tăng số lượng 'đặc vụ ngầm', là sáp nhập việc đào tạo các đặc vụ tác chiến không công khai và nhiệm vụ tình báo nước ngoài vào Cơ quan Tình báo Quốc gia, nhưng đây rõ ràng là một sai lầm lớn.
Tất nhiên, nếu nguồn gốc của các hoạt động tác chiến tình báo đến từ nhiều nơi, sự cạnh tranh lẫn nhau do vấn đề lợi ích và quyền lực nội bộ trở nên nghiêm trọng thì cũng có thể dẫn đến tranh chấp chính trị. Ở nước ngoài, có nhiều nơi như Vương quốc Anh đã hợp nhất cơ quan tình báo trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cách thức này không thực sự phù hợp với hoàn cảnh của chúng ta, và chúng ta đã từng trải qua nhiều vấn đề khi thực hiện hợp nhất.
Vì vậy, thay vì mù quáng duy trì con đường thu thập thông tin tình báo nước ngoài thông qua một cơ quan duy nhất, chúng ta cần tìm giải pháp cho 'vụ rò rỉ đặc vụ ngầm của Bộ Tư lệnh Tình báo' lần này theo hướng đào tạo các đặc vụ thực hiện hoạt động thu thập thông tin không công khai ở nước ngoài qua nhiều kênh khác nhau, đồng thời các tổ chức có quyền nhân sự tách biệt phải hợp tác và kiểm chứng lẫn nhau.
Vấn đề an ninh thứ hai là sự ám ảnh quá mức đối với mục tiêu 'xuất khẩu quốc phòng 20 tỷ USD'. Xuất khẩu quốc phòng của Hàn Quốc trong khoảng 10 năm trở lại đây không thể vượt qua ngưỡng 3 tỷ USD, sau đó tăng vọt lên 7,3 tỷ USD vào năm 2021 và 17,3 tỷ USD vào năm 2022, nhưng đà tăng trưởng đã giảm nhẹ xuống còn 13 tỷ USD vào năm 2023.
Trong tình hình này, chính quyền hiện tại từ đầu năm nay đã đặt ra mục tiêu 'xuất khẩu quốc phòng 20 tỷ USD năm 2024' và đang yêu cầu chính phủ cùng các công ty công nghiệp quốc phòng phải 'dốc toàn lực' cho việc xuất khẩu quốc phòng dưới sự chỉ đạo của Văn phòng Tổng thống. Tháng 6 vừa qua, Văn phòng Tổng thống đã chủ trì 'Hội nghị đánh giá chiến lược xuất khẩu quốc phòng lần thứ 5' và tuyên bố công khai rằng sẽ hỗ trợ chiến lược để các doanh nghiệp quốc phòng mở rộng thị trường ra nước ngoài.
Tôi cứ băn khoăn liệu con số '20 tỷ USD xuất khẩu quốc phòng' có thực sự dành cho việc tăng cường sức mạnh quốc phòng hay phát triển công nghiệp quốc phòng của đất nước chúng ta hay không. Điều quan trọng hơn cả con số chính là mục đích cốt lõi của ngành công nghiệp quốc phòng.
Mục đích đầu tiên của xuất khẩu quốc phòng là phá vỡ giới hạn về khối lượng đơn hàng và khả năng sinh lời mà thị trường trong nước không thể đáp ứng, từ đó đảm bảo động lực tăng trưởng cho công nghiệp quốc phòng. Thứ hai là thông qua các hệ thống vũ khí ưu việt của chúng ta, các đồng minh hoặc quốc gia đối tác được đảm bảo an ninh và góp phần vào hòa bình quốc tế. Cuối cùng, khi tính kinh tế được đảm bảo thông qua xuất khẩu và khả năng R&D tự thân của các doanh nghiệp được cải thiện, kết quả là chúng ta có thể cung cấp cho quân đội của mình những vũ khí tốt với giá thành hợp lý.
Nói cách khác, việc chính phủ và doanh nghiệp cùng chung chí hướng dưới sự dẫn dắt của Văn phòng Tổng thống để cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu nhằm mở rộng xuất khẩu quốc phòng là điều tốt, nhưng chúng ta phải thúc đẩy xuất khẩu quốc phòng trong khuôn khổ trật tự quốc tế và tránh các giao dịch có thể gây ra vấn đề pháp lý.
Việc chúng ta dốc toàn lực vào công nghiệp quốc phòng là để bảo vệ sự phát triển của ngành và an ninh quốc gia, chứ không phải để việc xuất khẩu quốc phòng gây ra tác dụng ngược cho công nghiệp quốc phòng hay an ninh của đất nước.
Tất nhiên, tôi thường xuyên ủng hộ quan điểm rằng để xuất khẩu quốc phòng, chúng ta cần cân nhắc và hỗ trợ tình hình của các quốc gia nhập khẩu, và tôi giữ vững lập trường rằng điều này cần được thúc đẩy ngay cả khi nó trái ngược với một phần dư luận trong nước. Nhiều 'điều kiện giao dịch bất lợi cho Hàn Quốc' mà công chúng chỉ trích trong hợp tác quốc phòng với Ba Lan hay Indonesia thực tế cũng là điều mà các quốc gia khác thường gặp phải khi xuất khẩu. Tuy nhiên, tuân thủ các quy chuẩn quốc tế lại là một vấn đề khác.
Một quốc gia tiêu biểu không tuân thủ các nguyên tắc này là Trung Quốc, và việc xuất khẩu quốc phòng quá đà của Trung Quốc đã gây ra tác dụng ngược, làm xấu đi mối quan hệ với các nước phương Tây và làm giảm vị thế ngoại giao của chính họ. Chẳng hạn, khi Trung Quốc có động thái chuyển giao công nghệ tên lửa trái phép cho một quốc gia Trung Đông, CNN của Mỹ đã đưa tin vào tháng 12 năm 2021, và Tổng thống Mỹ Joe Biden khi đó đã tuyên bố sẽ trừng phạt các tổ chức liên quan.
Vấn đề an ninh cuối cùng cần chú ý là vấn đề liên quan đến chiến tranh nhận thức. Chiến tranh nhận thức (Cognitive Warfare) là một phương thức chiến tranh khái niệm mới, thường bị nhầm lẫn với chiến tranh tâm lý (Psychological Warfare). Mặc dù chiến tranh tâm lý và chiến tranh nhận thức giống nhau ở chỗ đều là các hoạt động quân sự liên quan đến tâm lý con người, nhưng chúng có nhiều điểm khác biệt.
Khái niệm cốt lõi của chiến tranh nhận thức là dựa trên giả định rằng có thể điều khiển hành vi và tâm trí con người bằng khoa học nhận thức, tâm lý học và khoa học thần kinh hiện đại. Nó bao hàm các hành động nhằm thay đổi nhận thức và phán đoán của con người theo hướng có lợi cho phe mình và bất lợi cho kẻ thù, dù là trước hay sau khi chiến tranh nổ ra.
Nói một cách dễ hiểu, đó là hãy sử dụng các kỹ thuật tiếp thị tiên tiến và kỹ thuật quản trị văn hóa tổ chức vào chiến tranh và tác chiến. Ví dụ, chiến tranh nhận thức hiện nay được thực hiện bằng cách sản xuất và phát tán hàng loạt thông tin để làm suy giảm niềm tin của ban lãnh đạo kẻ thù nhằm làm nhụt chí kẻ địch, thông tin thổi phồng sức mạnh quân sự của chúng ta để gây sợ hãi, hoặc thông tin ngăn cản ban chỉ huy quân sự kẻ thù đưa ra quyết định, khiến họ có những phán đoán sai lầm dẫn đến các chiến dịch không cần thiết hoặc không thể thực hiện các chiến lược thực sự quan trọng, từ đó khiến đối phương tin rằng những thông tin đó là thật.
Khái niệm chiến tranh nhận thức đã được đề xuất từ vài năm trước, lấy Mỹ làm trung tâm. Các quốc gia đối địch của Mỹ cũng được cho là đang sử dụng tích cực phương thức này. Trong thời bình, ví dụ nổi tiếng nhất về chiến tranh nhận thức là việc Nga phát tán thông tin giả trên mạng xã hội để can thiệp vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Trong cuộc chiến tranh Ukraine và cuộc chiến Israel-Palestine đang diễn ra hiện nay, chiến tranh nhận thức cũng đang được sử dụng rộng rãi.
Quân đội chúng ta gần đây cũng đang chú ý đến xu hướng chiến tranh nhận thức này và đang tiến hành nhiều nghiên cứu cũng như nỗ lực. Vấn đề là khái niệm chiến tranh nhận thức này khác với chiến tranh tâm lý ở chỗ, nó cần phải được sử dụng cả với quân nhà chứ không chỉ với nước thù địch. Trong tình huống chiến tranh nhận thức, cần tích cực quảng bá tầm quan trọng và sự hoạt động của quân đội nhà tới công chúng. Trên thực tế, sau khi chiến tranh Ukraine bùng nổ, Tổng thống Ukraine Zelensky đã xóa tan sự bất an của người dân bằng cách công khai hình ảnh đi dạo trên đường phố thủ đô Kyiv qua sóng livestream trực tuyến.
Vấn đề nằm ở chỗ việc này liên quan đến chính trị, đòi hỏi sự lựa chọn và hành động thận trọng. Ví dụ, trong cuộc chiến Israel-Palestine, Israel đã chi tiền quảng cáo trên mạng xã hội để chiếu các video về nỗi đau của người dân do cuộc tấn công của Hamas, cho thấy sự hoạt động mạnh mẽ trong chiến tranh nhận thức, nhưng hiện tại họ đang bị Hamas lấn lướt một cách thảm hại.
Trong khi ở giai đoạn đầu của cuộc chiến, các cuộc biểu tình ủng hộ và phản đối Israel diễn ra gay gắt trên khắp thế giới, thì hiện nay các cuộc biểu tình phản đối Israel đang lan rộng và liên tục diễn ra trên toàn cầu. Chính phủ các nước trên thế giới cũng đang ở trong bầu không khí khó lòng ủng hộ Israel.
Lý do Israel – vốn chiếm ưu thế trong chiến tranh nhận thức giai đoạn đầu – cuối cùng lại bị yếu thế ở Palestine rất đơn giản. Đó là vì họ đã tập trung vào an ninh chính quyền thay vì mục tiêu chiến tranh là thực hiện cuộc chiến. Để được cộng đồng quốc tế công nhận, họ cần phải nói về những tổn thất và khó khăn của Israel, nhưng để bảo vệ chính quyền, họ lại phải thuyết phục các thế lực cực hữu rằng cuộc chiến này hấp dẫn. Khi trọng tâm của chiến tranh nhận thức bị đặt vào vế sau thay vì vế trước, chúng ta phải quan sát kỹ tình cảnh Israel đang phải hứng chịu sự phẫn nộ từ người dân Palestine và cộng đồng quốc tế. Chúng ta cũng có thể rơi vào tình cảnh này.
Tôi đã tổng kết 3 vấn đề an ninh trọng yếu mà chúng ta đang phải đối mặt. Ba vấn đề này tuy nhìn có vẻ tách biệt nhưng thực chất lại liên quan chặt chẽ với nhau. Tôi hy vọng chính sách an ninh của chúng ta sẽ được thực hiện với suy nghĩ rằng nếu chỉ tập trung vào các vấn đề trước mắt và mục tiêu nhất thời, kết quả là lợi ích quốc gia của chúng ta có thể bị tổn hại nghiêm trọng.