[비즈한국] Các doanh nghiệp đôi khi đưa ra những quyết định khó có thể giải thích chỉ bằng tiền bạc. Nếu hiểu rõ luật pháp hoặc thể chế ẩn sau đó, ta có thể thấu hiểu tường tận những nội tình chi tiết. ‘Luật kinh doanh hữu ích (알쓸비법)’ giới thiệu những đầu mối giúp hiểu rõ dòng chảy kinh doanh.

Khi hành nghề luật sư, có những lúc thắng kiện và cũng có lúc thua kiện. Thua kiện là định mệnh của một luật sư, nếu sợ điều đó thì không thể làm nghề được. Tỷ lệ thắng kiện chứa đựng nhiều ý nghĩa. Nếu tỷ lệ thắng quá cao, có nghĩa là chỉ nhận những vụ việc chắc thắng hoặc không có ý chí nhận vụ việc; nếu tỷ lệ quá thấp, nghĩa là cần xem xét lại năng lực thực hiện công việc. Tóm lại, thua kiện là "chuyện thường tình nơi chiến trường" (병가지상사). Nghĩ một cách bình tĩnh, chẳng phải là thân chủ thua kiện chứ không phải người đại diện thua kiện sao?
Dù tự an ủi bản thân như vậy, thua kiện vẫn là một trải nghiệm bối rối và đau đớn. Thật tốt nếu ký ức về vụ kiện thua có thể biến mất, nhưng có những lúc ký ức ùa về khiến lòng đau nhói. Thế nhưng, cảm giác sẽ ra sao nếu khi nhận vụ việc ta đã thua, nhưng thời gian trôi qua, người ta mới phát hiện ra rằng lập luận lúc đó của mình là đúng? Nghĩ rằng mình đúng nên coi đó là "Sự việc tất yếu sẽ trở về đúng quỹ đạo" (사필귀정), nhưng đồng thời cũng cảm thấy "tiếc nuối vì quá muộn màng" (만시지탄).
Lý do tôi trình bày dài dòng về cảm xúc khi thua kiện là vì tôi tình cờ phát hiện ra một lập luận từng bị bác bỏ trong phán quyết của tòa án năm 2021, nay đã được Ủy ban Thương mại Công bằng (KFTC) trích dẫn trong quyết định trừng phạt sau nhiều năm. Đó là thông cáo báo chí của KFTC ngày 13 tháng 8 về 'trừng phạt hành vi hỗ trợ nhân lực bất hợp pháp quy mô lớn'. Nội dung cho biết Công ty A, một công ty con thuộc tập đoàn lớn, nhằm chiếm lĩnh thị trường phân phối nguyên liệu thực phẩm, đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường phân phối nguyên liệu thực phẩm địa phương vốn tập trung vào các tiểu thương - nơi mà các tập đoàn lớn chưa thâm nhập vào - rồi thiết lập rào cản gia nhập để các đối thủ lớn khác không thể chen chân vào.
Kinh doanh phân phối nguyên liệu thực phẩm địa phương là lĩnh vực khó để các tập đoàn lớn tạo ra lợi nhuận. Đơn vị giao dịch nhỏ, các đối tác (chủ yếu là quán ăn) thường xuyên phá sản, đóng cửa nên việc thu hồi công nợ rất khó khăn; hơn nữa đây là công việc đòi hỏi nhiều công sức như phải giao hàng ngày nhiều loại mặt hàng khác nhau, nên không phù hợp với cơ cấu nhân sự hay hệ thống lương bổng của các tập đoàn lớn. Hãy tưởng tượng công việc giao nguyên liệu thực phẩm đến trước cửa các nhà hàng trong khu phố vào sáng sớm.
Loại hình kinh doanh này có mạng lưới phân phối chằng chịt như mạch máu, và mạng lưới đó thường được hình thành nhờ mối quan hệ gắn bó giữa nhân viên kinh doanh và đối tác, nên một khi đã hoàn thiện thì rất khó thay đổi. Vì vậy, kinh doanh phân phối nguyên liệu thực phẩm khó tạo ra lợi nhuận, nhưng nếu chịu khó vất vả thì cũng chỉ vừa đủ để duy trì doanh nghiệp.
Các tập đoàn lớn thông thường không quan tâm đến thị trường phân phối nguyên liệu thực phẩm với cấu trúc như vậy. Tuy nhiên, Công ty A - đơn vị nắm giữ các công ty đứng đầu về từng mặt hàng nguyên liệu thực phẩm thông qua nhiều công ty con - lại có tình hình hơi khác. Ngay cả khi không thu được lợi nhuận từ thị trường phân phối nguyên liệu thực phẩm, việc chiếm lĩnh thị trường trước vẫn có lợi hơn. Bởi lẽ, các công ty sản xuất nguyên liệu thực phẩm là công ty con có thể đảm bảo được đối tác giao dịch ổn định, đồng thời có thể loại bỏ các nhà sản xuất nguyên liệu thực phẩm khác khỏi thị trường phân phối, từ đó mang lại lợi nhuận cho tập đoàn.
Thế nhưng, thị trường phân phối nguyên liệu thực phẩm có vấn đề là đại đa số (hơn 85%) thuộc về các tiểu thương, nên khi tập đoàn lớn thâm nhập sẽ gây ra vấn đề "xâm phạm thương mại ngõ hẻm". Để tránh sự ma sát với các tiểu thương khi thâm nhập trực tiếp hoặc đơn độc vào thị trường, Công ty A đã thành lập pháp nhân liên doanh, bề ngoài tuyên bố cùng chung sống hòa bình với họ để thâm nhập vào thị trường nguyên liệu thực phẩm địa phương.
Cho đến tận bây giờ, vẫn còn rất nhiều bài báo ca ngợi việc Công ty A thành lập pháp nhân liên doanh với các tiểu thương địa phương và tuyên bố cùng chung sống hòa bình. Ví dụ, có thể dễ dàng tìm thấy các bài viết mang tính quảng bá với tiêu đề như ‘Học viện hợp tác cùng phát triển với các nhà cung cấp vừa và nhỏ’, ‘Tăng trưởng hai con số dựa trên sự chung sống hòa bình’, ‘Công ty con với khái niệm chung sống hòa bình’.

Xét đến bản chất của doanh nghiệp luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu và góc nhìn của trụ sở tập đoàn lớn đối với các tiểu thương địa phương, liệu họ có thực sự thành lập pháp nhân liên doanh vì mục đích cùng chung sống hòa bình không? Tất nhiên là không. Nội dung thông cáo báo chí của KFTC chỉ ra điểm này như sau:
· Phương thức này (thành lập pháp nhân liên doanh) chỉ là cái cớ đối ngoại để tránh các vấn đề về chung sống hòa bình, khó có thể coi là có ý định chung sống hòa bình lâu dài và bền vững với các tiểu thương. Hợp đồng liên doanh quy định rằng sau khi các tiểu thương do Công ty A chỉ định thành lập pháp nhân liên doanh, Công ty A sẽ mua lại cổ phần để thâu tóm pháp nhân đó. Kết quả của việc coi tiểu thương không phải là đối tượng chung sống hòa bình mà là rào cản và rủi ro kinh doanh, Tập đoàn B - công ty mẹ của A - đã can thiệp để loại bỏ họ một cách có tổ chức và hệ thống.
· Trong khi Công ty A loại bỏ dần các tiểu thương một cách có tổ chức ở bên trong, pháp nhân liên doanh đã có thể đứng vững trên thị trường và giành được vị thế có lợi nhờ vào sự hỗ trợ nhân lực trong vụ việc này. Sự hỗ trợ này tiếp tục cho đến tận thời điểm pháp nhân liên doanh phát sinh khoản lỗ lớn, ngăn chặn và trì hoãn việc pháp nhân này rút lui khỏi thị trường. Kết quả là trong quá trình hợp đồng liên doanh, pháp nhân liên doanh đã có thể tiếp tục duy trì mạng lưới kinh doanh thu thập được từ các tiểu thương.
· (Lược) Pháp nhân liên doanh đã đạt được vị thế có lợi trong thị trường vốn dành cho tiểu thương, việc rút lui khỏi thị trường cũng bị ngăn chặn một cách nhân tạo, dẫn đến kết quả là tập đoàn lớn đã xâm chiếm lợi nhuận chính đáng mà lẽ ra các tiểu thương phải nhận được.
Nội dung thông cáo báo chí được viết bằng giọng điệu khô khan đặc trưng của văn bản hành chính nên có lẽ không tác động mạnh đến cảm xúc. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của bản thân tôi khi tiếp nhận vụ việc và chứng kiến thái độ cũng như phát ngôn của nhân viên Công ty A, nội dung trên chỉ là cách diễn đạt "uyển chuyển" về một thực tế khốc liệt và tàn nhẫn. Tập đoàn B coi các tiểu thương như rào cản, rủi ro kinh doanh, thậm chí là "tế bào ung thư" và tích cực loại bỏ họ. Trong quá trình đó, họ đã tận dụng triệt để các hành vi sai trái như nợ xấu tín dụng, nợ thuế quốc gia, giao dịch không hóa đơn và thậm chí không ngại đâm đơn kiện hình sự.
Không chỉ dừng lại ở đó. Họ thiết lập công thức tính giá trị chuyển nhượng quyền kinh doanh và cổ phần một cách khôn khéo, để khi doanh thu giảm, các tiểu thương không những không nhận được tiền từ Công ty A mà còn phải bồi thường thiệt hại cho Công ty A. Dùng điều này làm con tin, họ dễ dàng chiếm đoạt quyền kinh doanh và cổ phần. Các tiểu thương cứ ngỡ nhân viên của Công ty A được cử đến pháp nhân liên doanh là đối tác, nhưng thực tế thì nhân viên đó luôn mở to mắt giám sát, bới móc mọi sai sót trong quản lý.
Vì Công ty A chọn các công ty phân phối nguyên liệu thực phẩm đứng đầu địa phương để thành lập liên doanh nên pháp nhân liên doanh chắc chắn phải là những công ty uy tín. Điều thú vị là sau khi bắt đầu kinh doanh chính thức, chỉ giao dịch các sản phẩm của Tập đoàn B và sử dụng hệ thống máy tính, hậu cần của Công ty A, thì lợi nhuận của các pháp nhân liên doanh trên toàn quốc đều sa sút đồng loạt.
Điều này cho thấy Công ty A đã dựa vào sự hy sinh của pháp nhân liên doanh để mưu cầu lợi ích cho các công ty con sản xuất thực phẩm, hoặc cho thấy phương thức quản trị của Tập đoàn B là yếu kém. Thế nhưng, Công ty A vẫn phớt lờ bối cảnh này và yêu cầu các đối tác của pháp nhân liên doanh bồi thường thiệt hại với lý do doanh thu giảm sút.
Trong các vụ kiện dân sự, nơi văn bản hợp đồng là quan trọng, chiến lược quản trị hay ý định loại bỏ tiểu thương như trên của Công ty A và Tập đoàn B không ảnh hưởng lớn đến phán quyết. Nhưng trong quy trình của KFTC - nơi chú trọng đến cấu trúc và thực trạng thị trường - những tình tiết trên đã được phản ánh và Công ty A đã bị trừng phạt. Đây chính là đặc điểm của Luật Thương mại Công bằng nhằm bảo vệ trật tự công bằng trên thị trường, nhưng vẫn còn đó sự tiếc nuối khi biện pháp này đã quá muộn màng.