[비즈한국] Các doanh nghiệp đôi khi đưa ra những quyết định khó có thể giải thích chỉ bằng tiền bạc. Nếu hiểu rõ luật pháp hay thể chế ẩn sau đó, bạn có thể hiểu tường tận nội tình bên trong. "Pháp luật kinh doanh hữu ích (Bí quyết hữu ích)" sẽ giới thiệu những manh mối giúp hiểu rõ dòng chảy của kinh doanh.

Pháp luật phải phù hợp với lẽ thường. Nếu việc giải thích luật không khớp với lẽ thường, chúng ta cần phải xem xét lại liệu cách giải thích đó có đúng hay không. Bản chất của pháp luật nằm ở tính cưỡng chế, nhưng một bộ luật không hợp lẽ thường thì không những không được tôn trọng mà còn không có tính cưỡng chế. Điều này có thể thấy rõ qua các "đạo luật chết" tràn lan khắp mọi nơi.
Tuy nhiên, vấn đề không hề đơn giản. Lẽ thường ở mỗi người mỗi khác. Và lẽ thường cũng có thể trở nên lạc hậu theo thời gian. Việc khăng khăng cho rằng phải giải thích luật theo lẽ thường đồng nghĩa với việc phủ nhận mục đích của luật pháp trong việc hiện thực hóa công lý xã hội hoặc thúc đẩy lợi ích công cộng.
Ví dụ điển hình cho tình huống phức tạp này là những hành vi vi phạm luật nhưng vẫn được thừa nhận hiệu lực trong tư pháp. Nếu mục đích của luật chỉ dừng lại ở việc xử lý hành chính, thì hành vi vi phạm chỉ trở thành đối tượng chịu chế tài hành chính chứ bản thân nó không bị phủ nhận hiệu lực tư pháp. Các án lệ và học thuyết đều cho rằng, nếu xét đến mục đích lập pháp và tính ổn định pháp lý thì cách giải thích như trên là bất khả kháng.
Khái niệm "vi phạm pháp luật nhưng vẫn có hiệu lực" nghe qua có vẻ khó hiểu. Người ta sẽ đặt ra những câu hỏi như: "Tại sao lại bỏ mặc trạng thái bất hợp pháp dù thừa nhận nó?" hay "Việc lúc thì phủ nhận hiệu lực vì vi phạm luật, lúc lại công nhận hiệu lực phải chăng là sự phán xét tùy tiện và thực chất là tự tạo ra luật?". Thực tế, trong quá trình tư vấn, tôi thường gặp bế tắc ở điểm này. Đã không ít lần tôi phải nói với khách hàng đang "không thể hiểu nổi" rằng: "Theo án lệ thì không còn cách nào khác".
Lý do tôi dài dòng về những nội dung thường lướt qua trong nhập môn luật học là vì cách xử lý pháp lý đối với các hành vi vi phạm Luật Thầu phụ gần đây đã thay đổi đột ngột. Luật về công bằng trong giao dịch thầu phụ (Luật Thầu phụ) quy định về các hành vi giao dịch không công bằng có thể phát sinh trong giao dịch thầu phụ giữa bên giao thầu (người đặt hàng chính) và bên nhận thầu (nhà thầu phụ).
Luật Thầu phụ có các yếu tố cấu thành rõ ràng hơn so với các luật cạnh tranh công bằng khác. Bất kể nhà thầu phụ có thực sự bị thiệt hại hay không, chỉ cần vi phạm các yếu tố hình thức và thủ tục như không cung cấp văn bản cũng đủ cấu thành vi phạm pháp luật. Ngoài ra, có lẽ do các tranh chấp về mối quan hệ "cấp trên - cấp dưới" ở Hàn Quốc rất gay gắt nên các vụ vi phạm đã được phân loại cụ thể, giúp các cơ quan quản lý dễ dàng đưa ra phán quyết ngay khi nhìn vào. Do đó, Luật Thầu phụ có nhiều án lệ thi hành hơn so với các luật khác, và một khi đã rơi vào phạm vi áp dụng thì khả năng bị áp đặt chế tài là rất cao, dù mức độ có thể khác nhau.
Trong số các hành vi bị cấm như là hành vi giao dịch không công bằng trong Luật Thầu phụ, có quy định về 'Cấm các điều khoản đặc biệt bất hợp lý' (Điều 3-4). Nội dung là bên giao thầu không được thiết lập các điều kiện hợp đồng xâm phạm hoặc hạn chế một cách bất hợp lý lợi ích của bên nhận thầu.
Dù có khía cạnh mơ hồ về việc thế nào là bất hợp lý, nhưng nếu nhìn vào 'Hướng dẫn thẩm định điều khoản đặc biệt bất hợp lý' của Ủy ban Thương mại Công bằng, không khó để đoán được điều khoản nào bị Luật Thầu phụ cấm. Hướng dẫn này định nghĩa 'điều khoản đặc biệt bất hợp lý' là: 'Các điều kiện hợp đồng được thiết lập thông qua thỏa thuận ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ giữa bên giao thầu và bên nhận thầu, bất kể tên gọi hay hình thức là bản vẽ thiết kế, thông số kỹ thuật, thuyết minh hiện trường... mà bên giao thầu cung cấp hoặc nhận được khi ủy thác sản xuất, nhằm xâm phạm hoặc hạn chế bất hợp lý lợi ích của bên nhận thầu'. Ngoài ra, hướng dẫn cũng liệt kê các ví dụ cụ thể.

Giả sử nhà thầu phụ sau bao khó khăn, trải qua nhiều thủ tục như báo cáo lên Ủy ban Thương mại Công bằng, kiện tụng dân sự... cuối cùng được công nhận rằng điều kiện do bên giao thầu đơn phương áp đặt là điều khoản đặc biệt bất hợp lý vi phạm Luật Thầu phụ. Vậy liệu vấn đề có được giải quyết bằng cách phủ nhận hiệu lực của điều kiện đó vì nó vi phạm pháp luật không?
Theo án lệ trước đây thì không. Phán quyết 2010Da53457 của Tòa án Tối cao cho rằng, xét đến mục đích và ý nghĩa lập pháp, dù vi phạm điều khoản Luật Thầu phụ cấm giảm giá bất hợp lý, hành vi đó vẫn được coi là có hiệu lực. Tuy nhiên, tòa tuyên rằng nếu hành vi đó cấu thành hành vi bất hợp pháp xâm phạm quyền lợi của nhà thầu phụ, nhà thầu phụ chỉ có thể đòi bồi thường thiệt hại từ bên giao thầu.
Việc cho rằng dù vi phạm Luật Thầu phụ nhưng hành vi vẫn có hiệu lực và chỉ có thể đòi bồi thường thiệt hại thoạt nhìn có vẻ hợp lý. Tuy nhiên, nếu xét trên thực tế, án lệ trên giống như ném một thử thách khó khăn khác cho nhà thầu phụ. Bởi vì ngay cả khi đã chứng minh được hành vi vi phạm Luật Thầu phụ sau những tranh luận gay gắt, nhà thầu phụ vẫn không được cứu trợ ngay lập tức, mà phải chứng minh hàng loạt các yếu tố như 'sự phát sinh thiệt hại', 'mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại', 'số tiền thiệt hại' thì mới nhận được bồi thường.
Trong kiện tụng dân sự, các phán quyết kiểu như "hành vi bất hợp pháp được thừa nhận nhưng việc phát sinh thiệt hại không được chứng minh nên bác đơn đòi bồi thường" không phải là hiếm. Và không biết có phải do tính bảo thủ của tòa án hay do các nguyên lý pháp lý như phân chia lỗi, mà số tiền bồi thường được chấp nhận trong các vụ kiện thường thấp hơn rất nhiều so với vị thế của người chịu thiệt hại. Với tình cảnh này, việc cứu trợ thông qua báo cáo Ủy ban Thương mại Công bằng hay kiện tụng dân sự chẳng khác nào "được thì tốt, không thì thôi". Dù có cố gắng đến đâu cũng không bao giờ nhận lại được nhiều hơn phần mình đáng lẽ được hưởng, dẫn đến hầu hết đều rơi vào thua lỗ.
Một người hợp lý chắc chắn sẽ đặt câu hỏi này: "Chẳng phải nên xóa bỏ hành vi vi phạm pháp luật, và trên giả định không tồn tại hành vi đó, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là được sao?". Đây là tư duy: nếu bỏ qua các khái niệm khó khăn như tính ổn định pháp lý, chẳng phải chỉ cần phủ nhận hiệu lực của hành vi vi phạm là xong sao? Trong trường hợp này, vì những khoản thanh toán hoặc vật tư mà bên giao thầu nhận được từ bên nhận thầu là không có căn cứ, nên dù nhà thầu phụ có chứng minh thiệt hại hay không, bên giao thầu vẫn phải trả lại.
Dựa trên sự nhận thức vấn đề này, Luật Thầu phụ sửa đổi đã quy định phủ nhận hoàn toàn hiệu lực của các điều khoản đặc biệt bất hợp lý (có hiệu lực từ ngày 2/10/2025). Theo đó, các trường hợp sau đây đều vô hiệu: △ Thỏa thuận chuyển giao chi phí cho nhà thầu phụ phát sinh do bên giao thầu yêu cầu những việc không có trong văn bản △ Thỏa thuận bắt nhà thầu phụ gánh chịu chi phí xử lý khiếu nại, tai nạn lao động... mà lẽ ra bên giao thầu phải chịu △ Thỏa thuận bắt nhà thầu phụ chịu chi phí cho những yêu cầu không nằm trong hồ sơ dự thầu. Đối với các thỏa thuận hạn chế lợi ích của nhà thầu phụ hoặc chuyển nghĩa vụ của bên giao thầu sang nhà thầu phụ, nếu chúng cực kỳ bất công đối với một bên, thì các thỏa thuận đó cũng bị vô hiệu.
Với việc Luật Thầu phụ sửa đổi mạnh dạn quy định phủ nhận hiệu lực của các điều khoản đặc biệt bất hợp lý, dự kiến sẽ có nhiều thay đổi trong cục diện các tranh chấp về thầu phụ. Mặc dù có thể có những tiếng nói lo ngại về hướng sửa đổi này xét trên khía cạnh tính ổn định pháp lý, nhưng đối với những người làm thực tế, tôi nghĩ đây là quá trình cần thiết. Việc Luật Thầu phụ được sửa đổi ngay lập tức để phản ánh các vấn đề thực tiễn cho thấy khía cạnh năng động của xã hội chúng ta.