주메뉴바로가기본문바로가기
비즈한국 비즈한국

Trước thềm áp dụng chế độ làm việc 4,5 ngày/tuần, vì sao chế độ làm việc linh hoạt lại 'đi ngược chiều'?

Bài viết này được dịch tự động bởi AI. Có thể có sai lệch so với bài viết gốc bằng tiếng Hàn.  Read original in Korean →

[비즈한국] Khi chính phủ Lee Jae-myung chọn việc áp dụng ‘chế độ làm việc 4,5 ngày/tuần’ làm nhiệm vụ trọng tâm để rút ngắn thời gian làm việc, dư luận đang đổ dồn sự chú ý vào việc liệu chế độ làm việc linh hoạt có được mở rộng hay không. Nguyên nhân là do có nhiều dự báo cho rằng, vì có những ngành công nghiệp khó áp dụng chế độ 4,5 ngày/tuần, nên chế độ làm việc linh hoạt phù hợp với thực tế của từng ngành nghề, nhóm công việc và quy mô doanh nghiệp sẽ cần được phổ biến rộng rãi hơn. Tuy nhiên, số lượng người lao động sử dụng chế độ làm việc linh hoạt đang giảm dần qua từng năm, dẫn đến những ý kiến cho rằng việc chuẩn bị các biện pháp đối phó phù hợp với lộ trình 4,5 ngày/tuần là vô cùng cấp bách.

Số lượng người lao động sử dụng chế độ làm việc linh hoạt đang giảm dần trong những năm gần đây.
Số lượng người lao động sử dụng chế độ làm việc linh hoạt đang giảm dần trong những năm gần đây.

Theo 'Kế hoạch 5 năm điều hành quốc gia (dự thảo) của chính phủ Lee Jae-myung' được công bố vào ngày 21, chế độ làm việc 4,5 ngày/tuần đã được đưa vào 123 nhiệm vụ trọng tâm của chính phủ. Chính phủ dự kiến sẽ bắt đầu bằng các dự án thí điểm tại chính quyền trung ương và địa phương, sau đó sẽ áp dụng cho cả các doanh nghiệp tư nhân thông qua việc sửa đổi Luật Tiêu chuẩn Lao động trong tương lai. Theo đó, tại những ngành công nghiệp khó áp dụng chế độ 4,5 ngày/tuần một cách đồng loạt, chế độ làm việc linh hoạt nhiều khả năng sẽ được mở rộng thực thi.

Thế nhưng, số lượng người lao động sử dụng chế độ làm việc linh hoạt lại đang có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây. Theo Cục Thống kê, tỷ lệ người lao động làm công ăn lương sử dụng chế độ làm việc linh hoạt đã tăng từ 14,2% năm 2020 lên 16,8% vào năm 2021. Điều này là do các doanh nghiệp tích cực khuyến khích nhân viên làm việc tại nhà và làm việc từ xa trong bối cảnh thực hiện giãn cách xã hội vì đại dịch COVID-19.

Tuy nhiên, tỷ lệ người lao động sử dụng chế độ làm việc linh hoạt đã bắt đầu giảm xuống mức 16,0% vào năm 2022 khi đại dịch COVID-19 dần lắng xuống, sau đó tiếp tục giảm xuống còn 15,6% vào năm 2023. Đến năm 2024, con số này ghi nhận mức 15,0%. Vấn đề nằm ở chỗ, trong khi số lượng người lao động mong muốn làm việc linh hoạt ngày càng tăng thì số lượng người thực sự được áp dụng chế độ này lại đang giảm dần.

Năm 2020, tỷ lệ người lao động làm công ăn lương mong muốn chế độ làm việc linh hoạt là 40,9%, chênh lệch 26,7 điểm phần trăm so với tỷ lệ người thực sự sử dụng (14,2%). Năm 2021, tỷ lệ người mong muốn là 42,8%, khoảng cách với tỷ lệ sử dụng (16,8%) thu hẹp xuống còn 24,2 điểm phần trăm. Nhưng đến năm 2022, tỷ lệ người mong muốn tăng vọt lên 45,2%, khiến khoảng cách với tỷ lệ sử dụng (16,0%) bắt đầu nới rộng lên 29,2 điểm phần trăm. Đến năm 2023, khi tỷ lệ người mong muốn tăng lên 47,0%, khoảng cách này đã lên tới 31,4 điểm phần trăm, vượt quá ngưỡng 30 điểm phần trăm.

Năm 2024, tỷ lệ người mong muốn chế độ làm việc linh hoạt đã tăng lên 48,1%, kéo khoảng cách nới rộng lên mức 33,1 điểm phần trăm. Khi số lượng người lao động mong muốn làm việc linh hoạt ngày càng nhiều mà các doanh nghiệp lại hạn chế cho phép, hiệu quả thực tế của chế độ làm việc linh hoạt đang ngày càng giảm sút.

Ngoài ra, phương thức mà các doanh nghiệp cho phép nhân viên làm việc linh hoạt cũng có sự khác biệt lớn so với mong muốn của người lao động. Phương thức được những người lao động mong muốn nhất là chế độ giờ làm việc linh hoạt (tự chọn). Đây là chế độ cho phép người lao động tự điều chỉnh và lựa chọn giờ làm việc ngoài thời gian bắt buộc phải có mặt tại công ty.

Trong số những người mong muốn chế độ làm việc linh hoạt, tỷ lệ người chọn chế độ giờ làm việc linh hoạt chiếm 37,1% năm 2020, 34,1% năm 2021, 33,6% năm 2022, 34,1% năm 2023 và 34,0% năm 2024, liên tục đứng đầu trong các cuộc khảo sát hàng năm. Ngược lại, chế độ ít được ưa chuộng nhất là làm việc tại nhà/từ xa. Tỷ lệ mong muốn hình thức này là 12,5% năm 2020, 15,9% năm 2021, 16,7% năm 2022, 16,2% năm 2023 và 15,5% năm 2024. Tiếp theo là chế độ lệch giờ làm việc, với tỷ lệ 21,4% năm 2020, 21,3% năm 2021, 20,7% năm 2022, 19,7% năm 2023 và 20,4% năm 2024.

Tuy nhiên, trên thực tế, các chế độ làm việc linh hoạt được sử dụng nhiều nhất lại là lệch giờ làm việc và làm việc tại nhà/từ xa. Năm 2020, 31,2% người lao động sử dụng chế độ lệch giờ làm việc; năm 2021, do tác động của COVID-19, hình thức làm việc tại nhà/từ xa chiếm tỷ lệ cao nhất với 32,3%. Năm 2022, tỷ lệ người sử dụng chế độ lệch giờ làm việc lại quay trở lại vị trí dẫn đầu với 31,7%, và tiếp tục tăng lên 33,0% vào năm 2023 và 35,0% vào năm 2024.

Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ mong muốn và tỷ lệ sử dụng, cũng như giữa hình thức mong muốn và hình thức thực thi như trên là do các doanh nghiệp không có chế độ làm việc linh hoạt hoặc dù có áp dụng thì cũng rất ít công ty triển khai chế độ giờ làm việc linh hoạt mà người lao động mong muốn. Theo Bộ Việc làm và Lao động, tính đến năm 2023, có tới 74,5% doanh nghiệp hoàn toàn không áp dụng bất kỳ hình thức làm việc linh hoạt nào. Ngay cả trong số những doanh nghiệp đã áp dụng, tỷ lệ triển khai chế độ giờ làm việc linh hoạt mà người lao động mong muốn nhất chỉ đạt vỏn vẹn 10,0%.

Bài viết này được dịch tự động bởi AI. Có thể có sai lệch so với bài viết gốc bằng tiếng Hàn.
이승현 저널리스트
writer@bizhankook.com
저작권자 ⓒ 비즈한국 무단전재 및 재배포 금지