주메뉴바로가기본문바로가기
비즈한국 비즈한국

Trò chơi tiền tệ ngành sinh học
① "Thử nghiệm lâm sàng thì dài, nguồn vốn thì ngắn" - 'Sự phân cực tài chính' quyết định thành bại của thuốc mới

Bài viết này được dịch tự động bởi AI. Có thể có sai lệch so với bài viết gốc bằng tiếng Hàn.  Read original in Korean →
Ghi chú của biên tập viên
Phát triển thuốc mới là cuộc chiến giữa thời gian và nguồn vốn. Để một chất ứng viên trở thành thuốc điều trị, cần hơn 10 năm thời gian và nguồn ngân sách khổng lồ. Đối với các doanh nghiệp sinh học, vốn không chỉ đơn thuần là kinh phí vận hành mà còn là năng lực cạnh tranh cốt lõi giúp họ vượt qua đường hầm dài mang tên "thử nghiệm lâm sàng". Mặc dù các quỹ chính sách và biện pháp hỗ trợ tài chính của chính phủ đang được mở rộng, nhưng vẫn có những ý kiến cho rằng vẫn tồn tại giới hạn trong việc đối phó với thời gian phát triển kéo dài và rủi ro thất bại cao. Bizhankook sẽ xem xét thực trạng huy động vốn của các doanh nghiệp sinh học trong nước, đồng thời tìm kiếm các giải pháp hệ sinh thái tài chính mới để hỗ trợ các doanh nghiệp có năng lực công nghệ có thể hoàn tất chặng đường thương mại hóa.

[비즈한국] Không phải tất cả các doanh nghiệp sinh học đều bắt đầu ở vạch xuất phát như nhau. Các công ty con dựa vào tiềm lực tài chính của tập đoàn lớn hoặc những doanh nghiệp dẫn đầu đã tạo ra doanh thu từ sản phẩm đều có đủ khả năng duy trì nghiên cứu và phát triển (R&D) ngay cả khi thị trường vốn đóng băng. Ngược lại, các doanh nghiệp khởi nghiệp sinh học vừa và nhỏ không có nguồn tạo tiền mặt tự thân buộc phải huy động vốn mới mỗi khi nâng cấp giai đoạn thử nghiệm lâm sàng. Khi thị trường đầu tư co lại, họ có thể rơi vào tình cảnh phải lựa chọn giữa việc tiếp tục nghiên cứu hay từ bỏ danh mục đầu tư (pipeline).

Trên thực tế, trong ngành công nghiệp sinh học trong nước, đang xuất hiện sự phân cực rõ rệt: các công ty con thuộc tập đoàn lớn có thể rót vốn dài hạn, thành công trong việc phát triển và thương mại hóa thuốc mới rồi tạo ra cơ chế tuần hoàn để tái đầu tư vào R&D; trong khi đó, các doanh nghiệp sinh học vừa và nhỏ lại phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài trong khi phải gánh chịu chi phí R&D khổng lồ so với doanh thu. Cuối cùng, điều quyết định sự thành bại của việc phát triển thuốc mới không chỉ là công nghệ, mà là 'tiền' để mua thời gian chờ đợi cho đến khi công nghệ đó đơm hoa kết trái.

Sự kiên định của Tập đoàn SK dẫn đến thành quả của SK Biopharmaceuticals và SK Bioscience

Trong số các doanh nghiệp sinh học không dừng đầu tư R&D ngay cả trong giai đoạn đóng băng của thị trường vốn, tiêu biểu là SK Biopharmaceuticals. Dựa trên sự hỗ trợ vốn dài hạn từ tập đoàn, doanh nghiệp này đã duy trì phát triển thuốc mới, và sau đó tạo ra cơ chế tuần hoàn khi đảm bảo được khả năng tạo tiền mặt thông qua doanh thu từ sản phẩm của chính mình để tái đầu tư vào R&D.

SK Biopharmaceuticals đã cần một khoảng thời gian dài để tự phát triển thuốc điều trị động kinh Cenobamate (tên thương mại tại Mỹ là Xcopri) và đạt được thành tựu trên thị trường Mỹ. SK Biopharmaceuticals bắt đầu nghiên cứu Cenobamate vào năm 2001, bước vào thử nghiệm lâm sàng năm 2005, và sau khi hoàn thành thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 toàn cầu, đã nhận được sự chấp thuận của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) vào năm 2019. Tức là từ khi bắt đầu nghiên cứu đến khi được cấp phép tại Mỹ mất khoảng 18 năm.

SK Biopharmaceuticals và SK Bioscience đã xây dựng cơ chế tuần hoàn: tạo nền tảng kinh doanh thông qua nguồn vốn đầu tư dài hạn ở cấp độ Tập đoàn SK, sau đó tìm kiếm động lực tăng trưởng mới dựa trên nền tảng đó. Ảnh = SK Biopharmaceuticals cung cấp

Số vốn đổ vào cũng không hề nhỏ. Chi phí R&D hợp nhất của SK Biopharmaceuticals đạt 177,2 tỷ Won năm 2019, 109,1 tỷ Won năm 2020 và 114,8 tỷ Won năm 2021. Sau khi ra mắt tại Mỹ, chi phí xây dựng tổ chức bán hàng trực tiếp tại địa phương được cộng vào khiến lỗ hoạt động năm 2020 tăng lên tới 239,5 tỷ Won.

Trong quá trình này, sự hỗ trợ dài hạn của Tập đoàn SK được xem là chỗ dựa vững chắc từ bên trong lẫn bên ngoài ngành. Đây là nền tảng giúp họ có thể tiếp tục phát triển và thương mại hóa dù phải gánh chịu khoản lỗ lớn trong nhiều năm, khác với các startup sinh học thông thường phải thu hồi vốn trong thời gian ngắn.

Hiện nay, SK Biopharmaceuticals đã đảm bảo khả năng tạo tiền mặt tự thân dựa trên doanh thu của Xcopri tại Mỹ, từ đó xây dựng cơ chế tuần hoàn để rót vốn vào các động lực tăng trưởng mới như thuốc điều trị bằng dược phẩm phóng xạ (RPT) và phân hủy protein mục tiêu (TPD).

SK Bioscience cũng sử dụng tiềm lực tài chính của Tập đoàn SK để xây dựng nền tảng. Hoạt động kinh doanh vắc-xin hiện tại bắt đầu từ việc SK Chemicals mua lại Dongshin Pharmaceutical, công ty kinh doanh vắc-xin và chế phẩm máu vào năm 2001.

Sau đó, SK Chemicals đã liên tục đầu tư vào R&D và cơ sở hạ tầng sản xuất, như thành lập trung tâm R&D vắc-xin năm 2005 và hoàn thành L-House tại Andong năm 2012. Dựa trên những khoản đầu tư này, họ lần lượt tung ra các sản phẩm như vắc-xin cúm 3 chủng nuôi cấy tế bào 'SkyCellflu' (2015), vắc-xin cúm 4 chủng nuôi cấy tế bào đầu tiên trên thế giới 'SkyCellflu 4-valent' (2016), vắc-xin zona 'SkyZoster' (2017), và vắc-xin thủy đậu 'SkyVaricella' (2018), qua đó hoàn thiện danh mục vắc-xin của riêng mình.

Hoạt động kinh doanh vắc-xin được tích lũy như vậy đã được tách ra khỏi SK Chemicals vào năm 2018 để thành lập SK Bioscience. Từ khi mua lại Dongshin Pharmaceutical đến khi thành lập công ty chuyên biệt về vắc-xin độc lập đã mất 17 năm.

Kể từ đó, SK Bioscience mở rộng hợp tác toàn cầu bên cạnh việc tự phát triển vắc-xin, đồng thời tích lũy kinh nghiệm và mạng lưới trong mảng kinh doanh CDMO vắc-xin trong suốt đại dịch Covid-19. Gần đây, họ đang mở rộng lĩnh vực kinh doanh sang vắc-xin phế cầu khuẩn thế hệ mới, mRNA (axit ribonucleic thông tin) và CGT (liệu pháp tế bào và gen).

Dù theo các phương thức khác nhau, SK Biopharmaceuticals và SK Bioscience đều cho thấy đặc điểm chung là củng cố nền tảng kinh doanh thông qua việc đổ vốn dài hạn, sau đó dựa vào đó để kết nối với các động lực tăng trưởng mới.

LG và Samsung cũng vượt doanh thu 1 nghìn tỷ Won nhờ tiềm lực tài chính của công ty mẹ

Việc các startup sinh học vừa và nhỏ tự mình huy động số vốn hàng nghìn tỷ Won để mua lại công ty nước ngoài hoặc mở rộng thử nghiệm lâm sàng toàn cầu là điều không hề dễ dàng về mặt thực tế. Ngược lại, mảng kinh doanh sinh học của các tập đoàn lớn có thể tận dụng cả tiền mặt từ các hoạt động kinh doanh hiện tại và khả năng đầu tư của công ty mẹ.

Khối Khoa học Đời sống của LG Chem là một ví dụ khác về việc tận dụng tiềm lực tài chính của công ty mẹ và dòng tiền từ các hoạt động kinh doanh hiện có.

LG và Samsung cũng đang đạt được doanh thu hàng năm hơn 1 nghìn tỷ Won từ thuốc mới và biosimilar nhờ kết quả đầu tư quy mô lớn bền bỉ từ cấp độ tập đoàn vào lĩnh vực sinh học. Ảnh là LG Science Park tọa lạc tại Magok, quận Gangseo, Seoul. Ảnh = Phóng viên Choi Young-chan

LG Life Sciences được sáp nhập vào LG Chem năm 2017 để trở thành Khối Khoa học Đời sống của LG Chem. Kể từ đó, đơn vị này đã xây dựng cơ cấu có thể tận dụng tiềm lực tài chính của LG Chem trong khi mở rộng quy mô kinh doanh dựa trên doanh thu ổn định từ các sản phẩm hiện có như thuốc điều trị tiểu đường Zemiglo và hormone tăng trưởng Eutropin.

Đặc biệt, vào năm 2023, LG Chem đã đầu tư lớn khoảng 566 triệu USD (730 tỷ Won) để mua lại Aveo - một doanh nghiệp sinh học sở hữu thuốc điều trị ung thư thận 'Fotivda' đã được FDA chấp thuận, qua đó đảm bảo năng lực thương mại hóa toàn cầu trong mảng thuốc chống ung thư. Doanh thu của khối kinh doanh Khoa học Đời sống LG Chem năm ngoái đạt 1,3454 nghìn tỷ Won.

Samsung Bioepis cũng là trường hợp tiêu biểu đã đảm bảo thời gian cần thiết cho R&D và thử nghiệm lâm sàng ban đầu nhờ sự hỗ trợ vốn của tập đoàn lớn, sau đó xây dựng cơ sở lợi nhuận của riêng mình.

Samsung Bioepis là doanh nghiệp sản xuất biosimilar được thành lập năm 2012 dưới dạng liên doanh giữa Samsung Biologics và Biogen (Mỹ). Tuy nhiên, giai đoạn đầu, họ liên tục thua lỗ cho đến năm 2018 do gánh nặng chi phí R&D và thử nghiệm lâm sàng toàn cầu. Mặc dù vậy, trong giai đoạn này, họ đã nhận được hỗ trợ tăng vốn khoảng 1 nghìn tỷ Won từ Tập đoàn Samsung để xây dựng nền tảng kinh doanh ban đầu.

Sự hỗ trợ của Tập đoàn Samsung không dừng lại ở đó. Năm 2022, Samsung Biologics đã mua lại toàn bộ số cổ phần Samsung Bioepis mà Biogen nắm giữ với giá khoảng 2,3 tỷ USD (2,7655 nghìn tỷ Won) để đưa thành công ty con 100%. Sau đó, công ty đã mở rộng danh mục biosimilar sang các lĩnh vực mắt, máu/thận, nội tiết bên cạnh các bệnh tự miễn và thuốc chống ung thư, phát triển thành một doanh nghiệp biosimilar toàn cầu với doanh thu 1,6619 nghìn tỷ Won và lợi nhuận hoạt động 379,9 tỷ Won vào năm ngoái.

Sinh học "dễ thở" hơn nhờ được tập đoàn lớn mua lại... Thêm thời gian vào công nghệ

LigeChem Biosciences được coi là trường hợp điển hình về việc thay đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp sinh học nhờ sự kết hợp với tập đoàn lớn.

LigeChem Biosciences vốn được công nhận có trình độ công nghệ cao trong lĩnh vực nền tảng ADC (liên hợp kháng thể-thuốc), nhưng năng lực tài chính lại hạn chế để gánh vác chi phí thử nghiệm lâm sàng giai đoạn sau của các ứng viên thuốc mới.

Trong tình huống đó, Orion, tập đoàn đã chọn lĩnh vực sinh học làm động lực tăng trưởng mới, đã trở thành cổ đông lớn nhất của LigeChem Biosciences thông qua khoản đầu tư trị giá khoảng 550 tỷ Won. Với số vốn này, LigeChem Biosciences đã có cơ sở để phát triển thuốc mới ADC của riêng mình.

Ngoài ra, CJ Bioscience nhận được sự hỗ trợ từ CJ CheilJedang, Bukwang Pharmaceutical nằm trong tay OCI Holdings, và SillaJen với cổ đông lớn nhất là M2N cũng đang tập trung vào R&D trong vòng tay của các công ty mẹ có tiềm lực tài chính. Khác với các doanh nghiệp sinh học vừa và nhỏ đang lo lắng về sự sống còn giữa cơn gió lạnh đầu tư sinh học, họ đang ở vị thế thuận lợi khi có thể nhận được nguồn đạn dược R&D ổn định mà không bị dao động bởi môi trường thị trường.

Ông Park Se-jin, CEO của LigeChem Biosciences, đang giải thích chiến lược kinh doanh tương lai tại sự kiện ‘LigeChem Bio R&D Day 2026’ tổ chức tại khách sạn Conrad, Yeouido, Seoul vào ngày 8 tháng 7. Ảnh = Phóng viên Choi Young-chan

'Sự phân cực tài chính' thể hiện qua những con số... Các doanh nghiệp sinh học vừa và nhỏ đang dồn tiền vào R&D trong khi vẫn thua lỗ

Hầu hết các startup sinh học vừa và nhỏ đều không có doanh thu từ các ứng viên thuốc mới. Chi phí R&D liên tục phát sinh nhưng thường không có nguồn tạo tiền mặt để bù đắp cho đến khi sản phẩm được tung ra thị trường.

Cho đến giai đoạn tiền lâm sàng và thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1, họ có thể duy trì nghiên cứu nhờ trợ cấp của chính phủ hoặc đầu tư từ các công ty đầu tư mạo hiểm (VC). Tuy nhiên, từ giai đoạn thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 - khi phải chứng minh tính hiệu quả một cách nghiêm túc, quy mô vốn cần thiết tăng vọt do số lượng bệnh nhân tăng và thời gian thử nghiệm kéo dài.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 nhắm đến số lượng bệnh nhân lớn lại càng là một rào cản lớn hơn nữa. Nếu mở rộng ra thử nghiệm đa quốc gia toàn cầu, số vốn cần thiết có thể tăng từ hàng chục tỷ lên hàng nghìn tỷ Won. Tuy nhiên, doanh thu sản phẩm vẫn chưa phát sinh và khả năng thành công của thử nghiệm cũng chưa được khẳng định.

Trong ngành công nghiệp sinh học, thời điểm cần nhiều tiền nhất này trùng với thời điểm các nhà đầu tư trở nên bảo thủ nhất được gọi là 'Thung lũng tử thần' (Death Valley).

Đặc biệt, trong tình trạng thị trường vốn rót vào ngành công nghiệp sinh học bị co lại như hiện nay, khoảng cách này càng trở nên lớn hơn. Số doanh nghiệp thành công trong đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) - kênh huy động vốn tiêu biểu - chỉ dừng lại ở khoảng 20 công ty mỗi năm. Đây là lý do tại sao nhiều doanh nghiệp phải tạm dừng phát triển hoặc thu hẹp pipeline không phải vì thiếu năng lực công nghệ, mà vì không có tiền để cầm cự cho đến khi công nghệ đó trở thành hoạt động kinh doanh.

Điều này có nghĩa là tiêu chuẩn quyết định sự sống còn của doanh nghiệp sinh học không chỉ là năng lực công nghệ. Dù cùng có năng lực công nghệ, kết quả thử nghiệm và vận mệnh kinh doanh có thể khác nhau tùy thuộc vào việc họ đã đảm bảo được tiềm lực tài chính để cầm cự được bao lâu.

Thị trường vốn càng đóng băng thì sự chênh lệch này càng hiện rõ. Các doanh nghiệp có tiền thì kiên trì vượt qua thời kỳ suy thoái để đầu tư vào các thử nghiệm và công nghệ tiếp theo, trong khi các doanh nghiệp không có nguồn tạo tiền mặt rơi vào cảnh buộc phải từ bỏ các pipeline cốt lõi để duy trì hoạt động ngay lập tức.

Đặc biệt, nhìn vào tình hình tài chính gần đây của các doanh nghiệp sinh học, điều kiện tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ càng bộc lộ rõ rệt hơn. Theo 'Khảo sát xu hướng doanh nghiệp chăm sóc sức khỏe sinh học niêm yết quý 1 năm 2026' do Hiệp hội Sinh học Hàn Quốc tổng hợp dựa trên 82 công ty niêm yết, sự phân cực về hiệu quả kinh doanh giữa các tập đoàn lớn/doanh nghiệp trung bình và doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất rõ ràng.

8 tập đoàn dược phẩm lớn đạt doanh thu 2,6701 nghìn tỷ Won và lợi nhuận hoạt động 1,0797 nghìn tỷ Won trong quý 1, trong khi 28 doanh nghiệp trung bình đạt doanh thu 3,8166 nghìn tỷ Won và lợi nhuận hoạt động 325,9 tỷ Won. Ngược lại, tổng doanh thu của 21 doanh nghiệp dược phẩm vừa và nhỏ chỉ đạt 209 tỷ Won, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước và ghi nhận lỗ hoạt động 65,8 tỷ Won, chuyển sang trạng thái thua lỗ.

Vấn đề là ngay cả trong tình trạng nguồn thu giảm, chi phí R&D cần phải bỏ ra để duy trì pipeline vẫn đang tăng lên. Chi phí R&D của các doanh nghiệp dược phẩm vừa và nhỏ trong quý 1 là 144,6 tỷ Won, tăng 38,5% so với cùng kỳ năm trước. Việc đổ vào R&D số tiền tương đương khoảng 70% tổng doanh thu quý đã khiến mức lỗ càng thêm trầm trọng.

Các doanh nghiệp sinh học vừa và nhỏ không còn khả năng tự chi trả chi phí R&D thông qua hoạt động kinh doanh đơn thuần đang bị dồn vào thế phải huy động vốn bên ngoài. Vấn đề là nguồn vốn của thị trường đang chỉ đổ dồn vào một số ít các doanh nghiệp. 'Cuộc chiến tiền tệ' của các doanh nghiệp sinh học vừa và nhỏ - những đơn vị phải chứng minh khả năng sống sót và hoàn tất thử nghiệm lâm sàng - đang bắt đầu.

Bài viết này được dịch tự động bởi AI. Có thể có sai lệch so với bài viết gốc bằng tiếng Hàn.
최영찬 기자

제약바이오 분야 출입하고 있습니다. 많이 듣고 많이 공부해 정확하게 쓰도록 하겠습니다.

chan111@bizhankook.com
저작권자 ⓒ 비즈한국 무단전재 및 재배포 금지